Hiển thị các bài đăng có nhãn Art. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Art. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013

Alexander Liberman

Alexander Semeonovitch Liberman (September 4, 1912 – November 19, 1999), Russian-American artist.



^ The Way, 1972-1980. (Nguồn: http://www.laumeiersculpturepark.org/sites/default/files/ckfinder/images/AlexanderLiberman_Laumeier_033.jpg)



^ Gate of Hope, 1972, University of Hawaii at Manoa, Honolulu. (Nguồn: http://uploads6.wikipaintings.org/images/alexander-liberman/gate-of-hope-1972.jpg)



^ Entwined III, 1987. (Nguồn: http://www.sculpturefoundation.org/images/artists/photos/Liberman2_01.jpg)



^ Daedalus, 1990. (Nguồn: http://www.sculpturefoundation.org/images/artists/photos/Liberman1_01.jpg)



^ Castle , 1990-1994. (Nguồn: http://images.miandn.com/www_miandn_com/f70963d6.jpg?1363701116841)



^ Offering Circa, 1965. (Nguồn: http://images.miandn.com/www_miandn_com/4f9c5b9e.jpg)



^ Realms, 1966. (Nguồn: http://images.miandn.com/www_miandn_com/788538a3.jpg)



^ Galaxy, 1984, Oklahoma city. (Ảnh: N. Hà)

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

Marc Chagall

Marc Chagall (1887-1985), sinh tại Vitebsk, Belarussia trong một gia đình gốc Do thái. Thủa nhỏ ông theo học hội họa ở đó, và sau là ở St. Petersburg. Vào năm 23 tuổi, ông đã sang Paris. Kể từ năm thứ hai sau khi tới đây, ông đến cư ngụ tại khu vực vốn tập trung nhiều studio của các nghệ sĩ, mang tên La Ruche (The Beehive – Tổ ong). Trong số các nghệ sĩ ở đó có Leger, Modigliani, và Archipenco. Sự giao tình của họ còn gồm có một nhóm nhà thơ, đứng đầu là Guillaume Apollinaire. Chính nhờ thông qua Apollinaire, ông đã gặp Herwarth Walden, chủ gallery ở Berlin Der Sturm (The Storm – Cơn bão). Walden là người say mê trường phái biểu hiện, đã đề nghị được tổ chức triển lãm riêng đầu tiên của Chagall tại Berlin năm 1914.

Trở lại thăm Vitebsk sau cuộc triển lãm, Chagall buộc phải lưu lại đó khá lâu do sự bùng nổ của Thế chiến I. Ông không thể trở lại Paris cho đến tận nhiều năm sau Cách mạng tháng Mười 1917. Trong thời gian ở nước Nga, ông đã cưới Bella Rosenfeld, lập bảo tàng, trở thành giám đốc Hàn lâm viện nghệ thuật, và dành hẳn một năm ở Moscow cho việc thiết kế kiểu dáng Nhà hát Nghệ thuật Do thái tại đây.



^ The Birthday (1915)



^ Double Picture with Wine Glass (1917-1918)



^ Self-Portrait with Palette (1917)



^ The Promenade (1917)



^ On the City (Not dated)

Năm 1922, trong chuyến quay về Paris cùng vợ và con gái Ida, ông đã trưng bày nhiều tác phẩm của mình tại Berlin và ở lại một thời gian để tìm hiểu về ấn loát đồ họa. Phương tiện này đã trở thành phần quan trọng trong sáng tác của ông. Sau này ông từng nói: “Khi tôi cầm lên một thạch bản hay bản khắc đồng, nó dường như cho tôi cảm giác chạm tay vào một phù đồ, nó cho tôi cảm giác có thể chuyển tải hết mọi vui buồn của mình vào đó…, tất cả những gì ngang qua cuộc đời tôi dọc suốt nhiều năm tháng: sự chào đời và cái chết, hôn nhân, hoa cỏ, muông thú, chim chóc, những kẻ bần hàn, cha mẹ, những mối tình trong đêm, các sách tiên tri của Kinh thánh, đời sống đường phố, trong nhà, nơi Thánh thất, và chốn thiên đường. Tấn bi kịch cuộc đời luôn ở bên trong ta, bao quanh ta, khi ta dần già đi.”

Các yếu tố đặc trưng cho phong cách Chagall cũng là tiêu biểu cho những trào lưu nghệ thuật thời đại ấy. Màu sắc của trường phái Dã thú, cấu trúc phân cắt của chủ nghĩa Lập thể hay ảo mộng như những hình ảnh trong tranh Siêu thực… đều có thể được tìm thấy trong hội họa của Chagall, nhưng ông vẫn giữ được trong thế giới hội họa của mình nhiều nét sáng tạo riêng, không thiên về bất cứ trào lưu nào.



^ The Violinista in Green (1923-1924)



^ Solitude (1933)

Trong những năm Đức quốc xã chiếm đóng Paris, ông chuyển cả gia đình sang Mỹ sinh sống. Về sau, ông lập gia đình với người vợ thứ hai, Vava, và sống ở St. Paul de Vence, miền nam nước Pháp. Ngoài hội họa và đồ họa, Chagall còn thực hiện nhiều tác phẩm nghệ thuật kiến trúc, bao gồm nhiều bích họa, mosaic, kính ghép mảnh, và thậm chí cả thảm trang trí…



^ Stained glass windows - Hebrew University Jerusalem (nguồn: http://luciano.stanford.edu/~levi/image_galery_site/Jerusalem/images/)

Leon Amiel, xuất bản gia ở New York cho các phiên bản ấy và cũng là nhà sưu tập các tác phẩm của Chagall, đã tôn vinh ông không chỉ như bậc thầy hội họa của thế kỷ 20, mà còn là đại sư của mọi thời.

Nguồn ảnh: http://www.terminartors.com

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

Phỏng cổ

Ông Jan-Erik Nilsson, trong bài “10 nguyên tắc đối phó với đồ (gốm sứ cổ) giả mạo” (xem bản dịch của Đông Vy), cho chúng ta vài “gợi ý nhỏ”. Gợi ý thứ 3 của ông là “Tìm kiếm những khiếm khuyết”, trong đó ông giải thích bởi những người sao chép chỉ tiếp cận được với ảnh chụp nên anh ta có thể không biết đằng sau món cổ vật hay đáy của nó thực sự có gì, hay hiệu đề thực sự thế nào, và anh ta có khả năng sẽ thêm thắt vào bản sao một chi tiết hoàn toàn không đồng nhất theo niên đại của món đồ thật. Nhưng khả năng tiếp cận với món đồ đã được xác định thật của chúng ta đến mức độ nào, theo cách nào? Và ngoài ra, liệu ta có đủ hiểu biết, chẳng hạn về từng giai đoạn lịch sử, để dù phát hiện chỉ một xíu khiếm khuyết sẽ chắc chắn xác nhận món đồ là giả mạo? Hẳn nhiên gợi ý thứ 6 – “Kiểm tra bằng tay” và gợi ý thứ 7 – “Thăm bảo tàng và mua sách” là điều cần làm. Gợi ý thứ 10 khá thú vị - “Phạm sai lầm” để có thêm hiểu biết và cũng là “một phần của niềm vui”...

Ở dưới đây so sánh hình ảnh những món sứ phỏng cổ (chứ không phải là giả mạo) với nguyên mẫu đã xác định niên đại và khi có thể sẽ so sánh hiện vật chuẩn với một vài bản khác mà về hình thức cũng theo kiểu món cổ vật ấy. Không bình luận, công việc này chưa hẳn đã đưa lại thêm hiểu biết rõ ràng nào, mà nếu có chút sai lầm, thì xem như là thực hành gợi ý 10 của Nilsson thôi.

1-A-01, Cảnh Đức Trấn phỏng cổ



1-B-01, hiện vật ở Tokyo National Museum (TNM). Lạc khoản đề : Phương nhị kinh thì tuyết lí khai. Vẽ hoa mai (mai mơ, hoa màu trắng hay hồng, khác với mai vàng Việt Nam) và trúc.



1-B-02, mặt sau hiện vật ở TNM, hiệu đề Ung Chính trong khung vuông.



1-C-01, một bản khác lưu hành trên thị trường



1-C-02



2-A-01, Cảnh Đức Trấn phỏng cổ



2-B-01, hiện vật ở Bảo tàng Thượng Hải



2-B-02, mặt sau - Đại Thanh Ung Chính niên chế



3-A-01, Cảnh Đức Trấn phỏng cổ



3-B-01, hiện vật ở Bảo tàng Thượng Hải



3-B-02, đáy ghi hiệu đề Khang Hi, hiện vật ở BT Thượng Hải



4-A-01, Cảnh Đức Trấn phỏng cổ



4-B-01, hiện vật ở TNM, niên đại tk 16



5-A-01, Cảnh Đức Trấn phỏng cổ



5-B-01, hiện vật ở National Palace Museum Đài Loan, niên đại Thanh - Càn Long



6-A-01, Cảnh Đức Trấn phỏng cổ



6-B-01, hiện vật ở NPM, niên đại Minh



7-A-01, Cảnh Đức Trấn phỏng cổ



7-B-01, hiện vật ở NPM, niên đại Thanh - Càn Long



7-B-02, hiện vật ở NPM, Thanh - Càn Long



8-A-01, Cảnh Đức Trấn phỏng cổ



8-B-01, hiện vật ở NPM, niên đại Thanh - Càn Long



9-A-01, Cảnh Đức Trấn phỏng cổ



9-B-01, hiện vật ở NPM, thời Minh



(còn tiếp)